Khơi thông tiềm năng thủy sản Quảng Nam

Quảng Nam có nhiều tiềm năng nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên sau nhiều năm phát triển, hiệu quả lĩnh vực này của tỉnh vẫn thấp lại ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Rất cần một giải pháp đồng bộ để khơi thông lợi thế vùng đất này.

Theo Chi cục NTTS Quảng Nam, cả tỉnh đang có 5.000 ha  NTTS nước ngọt (3.834 ha nuôi mặt nước, 1.166 ha nuôi ao đất và bể xi măng). Đối tượng chính nuôi nước ngọt gồm các loại cá truyền thống (mè, trôi, trắm, chép…) được thả nuôi mặt nước lớn; cá rô phi, tra, điêu hồng được nuôi trong ao đất, nuôi trong lồng; cá lóc, trê được nuôi trong bể xi măng. Ngoài ra, còn có các loài cá có giá trị kinh tế cao (như tầm, chình, lăng đuôi đỏ) và tôm càng xanh đang được nuôi thử nghiệm. Năng suất nuôi thủy sản nước ngọt tại Quảng Nam đối với cá tra thâm canh 150 – 200 tấn/ha/vụ; cá mè, trôi, trắm, chép và rô phi nuôi trong ao đất 2 – 3 tấn/ha (ở miền núi), 5 – 7 tấn/ha (ở đồng bằng); cá điêu hồng và rô phi nuôi lồng 40 – 60 kg/m3/vụ; cá lóc, trê nuôi trong bể xi măng 16 – 24 kg/m2. Bình quân sản lượng khoảng 6.000 tấn/năm.

dam tom

Diện tích NTTS nước mặn, lợ đến năm 2014 có gần 1.900 ha. Năng suất tôm sú 0,6 – 1 tấn/ha/vụ (bán thâm canh), 2 – 3 tấn/ha/vụ (thâm canh). Năng suất tôm thẻ chân trắng vùng triều 3 – 6 tấn/ha/vụ (với ao không lót bạt) và 7 – 10 tấn/ha/vụ (với ao nuôi lót bạt). Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản mặn, lợ năm 2015 khoảng 11.500 tấn, tăng 5.430 tấn so năm 2008. Nuôi tôm thẻ chân trắng lót bạt trên cát phát triển mạnh (chủ yếu tự phát) 5 năm nay, với tổng diện tích khoảng 350 ha; trong đó, nuôi vùng cát ven biển 255 ha, vùng triều ven sông 95 ha.

 

Tiềm năng, lợi thế NTTS ở tỉnh Quảng Nam chưa được khai thác nhiều do dịch vụ hậu cần chưa đồng bộ; cơ sở sản xuất, nuôi trồng thủy sản nhỏ lẻ, công suất thấp; chất lượng con giống cung ứng chưa đảm bảo; cơ sở hạ tầng vùng nuôi, nhất là vùng triều, còn sơ sài; công trình ao nuôi xuống cấp; môi trường vùng nước lợ nhiễm bẩn, đặc biệt với ao nuôi lót bạt trên cát chưa được xử lý, một số cơ sở nuôi trồng không trong quy hoạch sản xuất giống thủy sản nên không thể mở rộng quy mô đầu tư.

Tại các vùng NTTS chưa có hệ thống thủy lợi nước ngọt hợp vệ sinh, kể cả vùng đã được quy hoạch, xây dựng dự án phát triển sản xuất NTTS; do đó các hộ nuôi phải sử dụng nguồn nước lấy trực tiếp từ sông, biển, giếng ngầm nên ô nhiễm nguồn nước cấp, lây lan dịch bệnh, ảnh hưởng đến sản xuất và môi trường. Khó khăn lớn nhất của việc phát triển NTTS hiện nay là ở khâu tổ chức sản xuất và đầu ra sản phẩm. Chất lượng sản phẩm chưa đạt hiệu quả, sức cạnh tranh thấp. Số lượng doanh nghiệp chế biến thủy sản trong tỉnh còn ít, sản lượng thu mua thấp.

Trước thực tế nuôi tôm thẻ chân trắng phát triển ồ ạt tác động xấu đến môi trường và hiệu quả không cao, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành quy hoạch tạm thời nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2014 – 2018, có tổng diện tích 285,1 ha; trong đó, diện tích đang nuôi, chỉnh trang 205,9 ha, mở mới 79,2 ha. Các địa phương trong vùng quy hoạch là xã Tam Hòa, Tam Hải, Tam Tiến, huyện Núi Thành (136,6 ha); Bình Nam, Bình Hải, huyện Thăng Bình (148,5 ha). Theo quy hoạch tạm thời, trong thời gian quy hoạch, nếu Nhà nước thu hồi đất để dùng cho mục đích khác thì các hộ nuôi tôm được bồi thường theo quy định. Tuy nhiên, sau thời gian hết hiệu lực của quy hoạch, nếu Nhà nước thu hồi đất để dùng cho mục đích khác thì các hộ nuôi tôm phải trả lại thực trạng ban đầu, không được nhận bồi thường công trình và vật kiến trúc trên đất, đồng thời dọn vệ sinh, xử lý môi trường ao nuôi, tự san ủi trả lại mặt bằng như nguyên trạng.

Thời gian tới, để giải quyết khó khăn, vướng mắc, phát triển NTTS tương xứng tiềm năng, lợi thế, tỉnh Quảng Nam cần hỗ trợ người dân ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, có cơ chế hỗ trợ cơ sở sản xuất con giống, hỗ trợ thực hiện quy hoạch, khoanh vùng NTTS, thực hiện cơ chế, chính sách khuyến khích liên kết sản xuất, chế biến và thương mại thủy sản theo chuỗi giá trị sản phẩm; hỗ trợ khi dịch bệnh, thiên tai xảy ra. Có chính sách đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật chuyên ngành trình độ cao, đồng thời tổ chức tập huấn kỹ thuật, xây dựng mô hình sản xuất cho người dân.

http://thuysanvietnam.com.vn